Siêu dự án Cocobay Đà Nẵng tổng vốn đầu tư 10.000 tỷ Cocobay Đà Nẵng siêu lợi nhuận tối thiểu 12%/năm
Đăng ký Biệt thự, liền kề, shophouse, chung cư Vinhomes Mễ Trì Còn gọi là Vinhomes Green Bay Mễ Trì ra mắt 2016.
Sở hữu căn hộ chung cư cao cấp 5 sao hồ điều hòa 33ha Vinhomes phạm hùng dự án đẹp nhất hà nội
Vinhomes Nguyễn Trãi (Vinhomes Cao Xà Lá) chuẩn bị mở bán Vinhomes Nguyễn Trãidự án đẹp tại hà nội
Dự án nhà chung cư giá rẻ được mong đợi nhất 2016 Chung cư Gelexia Riverside 885 Tam Trinh liền kề, biệt thự, chung cư,văn phòng

328. Cần định nghĩa rõ ràng về tín dụng đen nếu muốn chống tín dụng đen (ĐTCK) ( 14/03/2019 )

Trước hết, tín dụng đen chắc chắn là loại hình tín dụng bất hợp pháp, tuy nhiên tín dụng bất hợp pháp chưa hẳn là tín dụng đen

Tín dụng đen - Thực tiễn và Giải pháp

Bài tham luận tại Tọa đàm “Phát triển Tín dụng tiêu dùng – Giải pháp đẩy lùi tín dụng đen” – Báo Đầu tư Chứng khoán ngày 15-3-2019

LS. Trần Minh Hải

Công ty Luật BASICO

Cần nhận rõ bản chất của tín dụng đen, cần thừa nhận thực tiễn về tình trạng tín dụng đen. Chỉ từ đó chúng ta mới có giải pháp đúng trong phòng chống tín dụng đen.

I/ Xác định rõ tín dụng đen là gì

Chúng ta đặt ra nhu cầu phòng chống tín dụng đen, thực chất là hướng tới mục tiêu loại bỏ những tác động xấu đặc trưng của loại hình tín dụng đen ra khỏi đời sống xã hội. Vậy thì cần nhìn nhận rõ bản chất của tín dụng đen chính bằng những tác động xấu đặc trưng của nó tới môi trường xung quanh chúng ta.

1.1.      1.1. Trước hết, tín dụng đen chắc chắn là loại hình tín dụng bất hợp pháp, tuy nhiên tín dụng bất hợp pháp chưa hẳn là tín dụng đen.

Dưới góc độ pháp lý, chúng ta có tín dụng hợp pháp và tín dụng bất hợp pháp, trong đó:

-         Tín dụng hợp pháp được hiểu là hoạt động cho vay chuyên nghiệp của các tổ chức cho vay hợp pháp tiến hành, trên cơ sở tuân thủ hành lang pháp lý. Ví dụ, hoạt động cho vay của 5 loại hình tổ chức tín dụng thuộc lĩnh vực Ngân hàng Nhà nước quản lý, của các Quỹ đầu tư phát triển thành phố, thậm chí của các công ty cầm đồ hoạt động theo đúng Nghị định số 96, …

-         Tín dụng bất hợp pháp được hiểu là hoạt động cho vay chuyên nghiệp có vi phạm các giới hạn pháp lý hoặc không đáp ứng điều kiện kinh doanh đối với người cho vay.

Vi phạm một quy định pháp luật thôi, thì hoạt động cho vay cũng trở lên bất hợp pháp. Tuy nhiên, nhiều khi sự bất hợp pháp đó lại rất hợp lý với thị trường, với người cho vay và cả người vay. Ví dụ, tại nhiều vùng nông thôn hiện nay tồn tại những nhóm cho vay chuyên nghiệp, với lãi suất cho vay nằm trong giới hạn 20%/năm. Xét về điều kiện kinh doanh, nhóm cho vay có sự vi phạm nên việc cho vay là bất hợp pháp. Tuy nhiên, hoạt động này lại được bà con ở vùng nông thôn đón nhận rất nồng nhiệt và hiếm khi xảy ra tranh chấp. Các khoản vay đáp ứng được nhu cầu vốn đa dạng của người nông dân – những nhu cầu mà giới ngân hàng thường bỏ qua, không cung cấp tín dụng. Dù bị định nghĩa là tín dụng bất hợp pháp nhưng xét về khía cạnh thị trường, thậm chí khía cạnh bình ổn đời sống, môi trường hoạt động sản xuất vùng nông thôn, các khoản vay này rất cần khuyến khích.

Cho nên, các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền như thanh tra, công an, viện kiểm sát, tòa án.. không nên nhìn nhận cứ tín dụng bất hợp pháp là tín dụng đen.

1.2.      1.2. Vậy thì tín dụng đen là gì? Theo tôi, cần một định nghĩa rõ ràng về tín dụng đen: “Tín dụng đen là hoạt động cho vay mà người cho vay có yếu tố lừa dối, ép buộc người đi vay gây hậu quả nghiêm trọng hoặc có dấu hiệu xâm phạm tính mạng, sức khỏe, chiếm đoạt tài sản của người đi vay”.

-         Một nhu cầu vay vốn cấp thiết gặp một nguồn cung vốn sẵn sàng, với lãi suất được hai bên thỏa thuận tự nguyện, thì cho dù mức lãi suất đó cao đến đâu, bản chất vẫn là thỏa thuận dân sự. Tôi không cho rằng những thỏa thuận vay vốn như vậy gây nguy hiểm cho xã hội. Chỉ thật sự mang tính chất nghiêm trọng nếu như người vay bị lừa dối, ép buộc dẫn đến người vay đi vay mà hoàn toàn không tự nguyện. Yếu tố này thực sự nguy hiểm và cần phòng chống, loại bỏ cho sự an toàn của xã hội.

-         Tín dụng đen gây nên tâm lý bất an, lo sợ cho xã hội. Sự bất an đó thực tế không hẳn vì những mức lãi suất vượt trần, cho vay không phép, thất thu thuế của ngân sách Nhà nước… Sự bất an đến từ việc xã hội phải đối mặt với những đặc trưng cực kỳ nổi bật của tín dụng đen. Đó là sự liều lĩnh, manh động, sẵn sàng phá vỡ các giới hạn của người cho vay nhằm xâm phạm tài sản, sức khỏe, tính mạng của người đi vay cùng gia đình họ. Đây mới là bản chất nguy hiểm của tín dụng đen.

-         Nhìn nhận các yếu tố trên, chúng ta mới có thể xác định rõ phòng chống tín dụng đen là phòng chống cái gì. Đôi khi, sự thiếu tách bạch trong quan điểm nhận thức về tín dụng đen khiến cho chúng ta phòng chống nhầm mục tiêu. Chẳng hạn đặt nặng mục tiêu vào chống lãi suất cao, vậy là chúng ta loại bỏ ra khỏi thị trường hàng loạt các tổ chức, cá nhân cho vay bất hợp pháp nhưng không phải tín dụng đen. Vô hình chung, cách làm như vậy chỉ khiến người dân thiếu thêm lựa chọn, bị đưa đẩy vào vùng trũng tín dụng đen thực sự.

II/ Thực trạng của tín dụng đen

2.1.      2.1. Con số về các vụ việc liên quan đến tín dụng đen:

-         Tại Hội nghị trực tuyến của Ngân hàng Nhà nước triển khai Nghị định 116/2018/NĐ-CP về chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn, đại diện Vụ thanh tra, Ngân hàng Nhà nước có thông tin:

“Theo số liệu chưa đầy đủ của Bộ Công an, 4 năm gần đây, toàn quốc đã có 7.624 vụ án liên quan đến tín dụng đen, với 56 vụ giết người, 398 vụ cố ý gây thương tích, 629 vụ cướp tài sản, 836 vụ cưỡng đoạt tài sản, 1.809 vụ lừa đảo, 3.581 vụ lạm dụng tín nhiệm, 165 vụ huỷ hoại tài sản… Trong đó có 170 vụ lừa đảo, lạm dụng liên quan đến việc huy động vốn lãi suất cao với số tiền hàng nghìn tỷ đồng, vỡ nợ dây chuyền. Lực lượng Cảnh sát hình sự đang theo dõi 124 băng nhóm với 831 đối tượng hoạt động có tổ chức về lĩnh vực cho vay nặng lãi.”

-         Như chúng ta thấy, liên quan đến tín dụng đen có đủ loại vụ việc phạm tội đã diễn ra từ lừa đảo, hủy hoại tài sản cho đến cướp tài sản, giết người… Các con số trên đã đủ nêu rõ thực trạng xấu và sự tác động ghê gớm đến xã hội của tín dụng đen. Các con số cũng cho thấy tín dụng đen không chỉ đang tồn tại mà còn phát triển rất nhanh.

2.2.      2.2. Vì sao người dân vẫn lao vào tín dụng đen để rồi đối diện với những nguy hiểm rình rập?

-         Bởi không phủ nhận thực tế, tín dụng đen mạnh hơn tín dụng hợp pháp về khả năng giải quyết nhu cầu vay vốn: Nhu cầu vay của người dân luôn tồn tại, nơi có chức năng đáp ứng nguồn cung về tín dụng rõ ràng nhất là các ngân hàng, công ty tài chính. Tuy nhiên, các quy định hiện nay tại Thông tư số 39 về hoạt động cho vay nói chung của tổ chức tín dụng và Thông tư số 43 về cho vay tiêu dùng của công ty tài chính đều đang đặt ra những cản trở rõ ràng về đáp ứng nhu cầu cho vay. Theo các văn bản này, thì giới tổ chức tín dụng chỉ được giới hạn cho vay tiêu dùng với các nhu cầu được các Thông tư cho phép. Vậy là rất nhiều các mục đích vay vốn tiêu dùng thực tế khó có thể đáp ứng. Ví dụ: Một người vay tiền cá nhân từ người khác để mua một chiếc xe máy, nay có nhu cầu vay để trả nợ nốt một phần tiền còn lại của khoản nợ đến hạn. Điều chắc chắn, giới tài chính ngân hàng không thể cho vay, bởi nhu cầu này không nằm trong sự cho phép của Thông tư số 39, Thông tư số 43.

Trong khi đó, tín dụng đen đáp ứng mọi nhu cầu của người vay. Thậm chí, người vay không cần nêu rõ về nhu cầu vay. Đây là điểm mạnh vượt trội của tín dụng đen và cũng là nguyên nhân dẫn đến thực trạng nhiều người vay trên thị trường tìm đến tín dụng đen.

-         Bởi tín dụng đen tự do hơn tín dụng hợp pháp về điều kiện, giới hạn, thủ tục, quy trình cho vay: Các tổ chức tín dụng bị đặt ra nghĩa vụ phải bảo đảm có đủ hồ sơ chứng minh về quá trình cho vay với khách hàng. Trong đó có rất nhiều nghĩa vụ quy trình rườm rà đến từ quy định bắt buộc phải tuân thủ. Ví dụ như phải có chứng từ chứng minh mục đích vay vốn của khách hàng, phải có hồ sơ chứng minh thu nhập khả năng thanh toán nợ của khách hàng… Đây là điều hoàn toàn không phù hợp với phân khúc thị trường tín dụng tiêu dùng khi so sánh với tín dụng doanh nghiệp. Người đi vay tín dụng đen không gặp bất cập nêu trên và điều đó cũng là nguyên nhân dẫn đến thực trạng tín dụng đen phát triển.

-         Như vậy, khi người dân gặp nhiều khó khăn trong việc tiếp cận những nguồn vốn hợp pháp thì điều tất yếu đó cũng là môi trường để tín dụng đen tồn tại phát triển.

2.3.      2.3. Một nguyên nhân khác dẫn đến thực trạng tín dụng đen hiện nay đó là giải pháp phòng chống nhầm của hệ thống pháp luật hình sự đối với tín dụng đen. Nâng tầm phòng chống tín dụng đen lên mức hình sự, chúng ta có điều luật đặc trưng là “Tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” - Điều 201 Bộ luật Hình sự.

“1. Người nào trong giao dịch dân sự mà cho vay với lãi suất gấp 05 lần mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật dân sự, thu lợi bất chính từ 30.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm”.

Quy định trên hướng tới việc xử lý nghiêm khắc các hoạt động cho vay mà lãi suất cao gấp 5 lần mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật dân sự. Mức lãi suất chạm ngưỡng hình sự là từ 100%/năm, bởi mức lãi suất cao nhất theo Bộ luật Dân sự là 20%/năm. Thực tế có những trường hợp vay vốn mà người vay sẵn sàng chấp nhận mức lãi suất vượt ngưỡng hình sự vì nhu cầu vay vốn cấp thiết và vì lợi ích thiết thực của chính họ. Ví dụ: Đến hạn trả 100 triệu đồng để chuộc lại tài sản có giá 2 tỷ đồng, thì người vay sẵn sàng chấp nhận khoản vay với lãi suất vài trăm phần trăm một năm để chuộc lại tài sản rất giá trị. Vậy nên, miễn là người vay và người đi vay đồng thuận, lãi suất cao đến đâu pháp luật hình sự cũng không nên can thiệp. Không thể lý luận cần xử lý hình sự cho vay nặng lãi để tránh bóc lột.. Điều này không phù hợp với thị trường. Ngay giới ngân hàng hiện nay, các mức lãi suất lên đến 70-80%/năm vẫn áp dụng khi khách hàng vay vốn có yếu tố không rõ ràng về nguồn thu.., miễn là giới ngân hàng vẫn thấy có thể cho vay với mức lãi suất phù hợp rủi ro. Theo tôi, Bộ luật Hình sự đã nhầm lẫn trong đấu tranh phòng chống tín dụng đen. Không có một điều luật nào đặc trưng về tín dụng đen, chống thẳng vào bản chất nguy hiểm của loại hình cho vay gây mất an toàn xã hội. Ngược lại, quy định hiện hữu tại Điều 201 khiến cho mọi tổ chức cho vay hợp pháp chùn bước, không dám giải phóng nguồn vốn tín dụng cho những khoản vay lãi suất cao từ 100%/năm. Kết cục dẫn đến thực tế, tín dụng đen có sân chơi độc quyền bởi giới cho vay bất tuân pháp luật sẵn sàng vượt qua giới hạn của điều luật nói trên. Người đi vay không hề được bảo vệ hữu hiệu trong trường hợp này bởi hệ thống pháp luật.

III/ Giải pháp cho phòng chống tín dụng đen

3.1.      Thiết lập hành lang pháp luật chống lại các dấu hiệu đặc trưng của tín dụng đen từ góc độ hành chính đến hình sự. Cụ thể, Bộ luật Hình sự cần có quy định riêng về tín dụng đen với chế tài chuyên biệt để hướng tới việc xử lý rạch ròi về tín dụng đen. Hiện nay, nếu xảy ra các hậu quả từ tín dụng đen như giết người, cố ý gây thương tích, cướp tài sản.., thì ngành tư pháp lại phải dùng các quy định liên quan đến hậu quả đó để xét xử như “tội giết người”, “tội cướp tài sản”... Điều đó chưa đủ, bởi mới chỉ xử lý được một  phần hành vi nối tiếp mà bỏ lọt phần hành vi bản chất – hoạt động tín dụng đen. Trong tình hình hiện nay, để phòng ngừa có mục tiêu cụ thể, rõ ràng hơn cần một quy định mới về tội phạm chuyên biệt dưới tên gọi rõ ràng, ví dụ “Tội hoạt động tín dụng trái pháp luật gây hậu quả nghiêm trọng”. Tội danh này sẽ có các chế tài chuyên biệt hướng tới triệt tiêu các nguồn lực tài chính của giới phạm tội nhằm áp chế hoạt động tín dụng đen.

3.2.      Gỡ bỏ rào cản trong hoạt động cho vay tiêu dùng

-         Cần gạt bỏ các quy định bắt buộc về nhu cầu vay vốn, hồ sơ vay vốn từ các quy định hiện hành của Ngân hàng Nhà nước trong hoạt động cho vay tiêu dùng;

-         Cần nghiên cứu thay thế quy định về  “Tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” - Điều 201 Bộ luật Hình sự theo hướng ngăn chặn những tác động xấu thuộc bản chất nguy hiểm của tín dụng đen như phân tích;

-         Cần cấp phép thành lập mới các tổ chức tài chính, tín dụng để tăng nguồn cung, đáp ứng nhu cầu của người dân. Đây là nhu cầu thiết thực với sự sẵn sàng tham gia thị trường của nhiều tổ chức định chế tài chính trong nước và nước ngoài.

3.3.      Hợp pháp hóa các hoạt động tín dụng chưa hợp pháp nhưng không phải là tín dụng đen

-       Cần nghiên cứu bãi bỏ giới hạn lãi suất cho vay trong quy định của Bộ luật Dân sự. Chúng ta đã nhiều lần nhận thấy sự bất cập và nhiều lần nghiên cứu để thay đổi quy định về trần lãi suất cho vay. Bộ luật Dân sự 1995 quy định trần lãi suất cho vay một cách “tưởng tượng” (50% mức lãi suất cao nhất do Ngân hàng Nhà nước quy định đối với từng loại cho vay tương ứng – thực tế không có quy định này). Sau đó Bộ luật Dân sự 2005 quy định thành mức lãi suất 9%/năm (không quá 150% lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố. Tiếp theo, nhận thấy lãi suất trần như vậy gây khó cho thị trường, Bộ luật Dân sự 2015 thay giới hạn thành 20%/năm như hiện nay. Tuy nhiên, cho đến nay cần khẳng định những thay đổi như vậy là loanh quanh, lẩn quẩn và không phù hợp với thực tiễn. Thị trường và các giao dịch thỏa thuận không cần bất cứ giới hạn nào về mức trần lãi suất cho vay trong quy định của Bộ luật Dân sự.

-       Thiết lập lại chính sách quản lý đối với các công ty cầm đồ và bổ sung chức năng hoạt động cho vay tiêu dùng cho các loại hình doanh nghiệp dựa trên nguyên tắc có đăng ký kinh doanh, nộp thuế đủ vào ngân sách Nhà nước các khoản thu từ hoạt động cho vay tiêu dùng. Sự kiểm soát dựa trên nguyên tắc chấp nhận sự tự do hoạt động trên cơ sở không có những dấu hiệu của tín dụng đen.

 

1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
© 2011 Bản quyền của BASICO
dịch vụ bảo dưỡng kỹ thuật định kỳ để duy trì hoạt động liên tục của thang máy thang máy gia đình
dịch vụ bảo dưỡng kỹ thuật địnhbảo trì thang máyKhách sạn đa dạng, nhiều ưu đãi giảm giá và đặc biệt không thu phí giao dịch.đặt phòng khách sạn